Hoạt động thể lực và bệnh loãng xương

Eva Ljunggren Ribom, Karin Piehl–Aulin 

Tóm tắt 

Trong những thập niên vừa qua, tỷ lệ gãy xương do loãng xương tăng lên đáng kể]. Vì vậy, phòng tránh loãng xương là một vấn đề quan trọng. Xu hướng phòng bệnh hiện nay tập trung chủ yếu vào việc làm giảm các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được của bệnh loãng xương. Hoạt động thể lực có vai trò như một nhân tố quan trọng, nhằm tăng cường và duy trì cấu trúc xương, là một trong số các biện pháp phòng ngừa loãng xương. 


1. Định nghĩa loãng xương 

Loãng xương được định nghĩa là bệnh lý của hệ thống xương, đặc trưng bởi khối xương thấp (hay mật độ khoáng của xương – BMD) và vi cấu trúc xương bị phá hủy, dẫn đến tình trạng xương mỏng và tăng nguy cơ gãy xương . 

2. Tỷ lệ hiện mắc/tỷ lệ mới mắc bệnh loãng xương 

Bệnh loãng xương khá phổ biến ở Thụy Điển. Cứ 3 phụ nữ tuổi từ 70–79 thì có 1 người bị loãng xương vùng xương đùi . 

3. Nguyên nhân gây loãng xương

Loãng xương được phân thành hai loại dựa trên nguyên nhân gây bệnh: 

• Loãng xương nguyên phát: xảy ra sau khi mãn kinh hoặc có liên quan tới tuổi và lối sống như ít vận động, hút thuốc, uống rượu hoặc chế độ ăn thiếu dưỡng chất. 

• Loãng xương thứ phát: là hậu quả của một số bệnh lý hoặc điều trị dùng thuốc. 

4. Các yếu tố nguy cơ  của loãng xương

Các yếu tố nguy cơ của loãng xương được chia làm hai nhóm: nhóm các yếu tố không thể kiểm soát được (tiền sử gia đình, tuổi cao, giới nữ, mãn kinh sớm, chiều cao và tiền sử gãy xương của bản thân) và nhóm các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được (hút thuốc lá, ít hoạt động thể lực, dinh dưỡng kém, cân nặng thấp, sức khỏe yếu, loãng xương thứ phát và điều trị dùng thuốc). 

Các yếu tố nguy cơ của loãng xương được chia làm hai nhóm: nhóm các yếu tố không thể kiểm soát được
Các yếu tố nguy cơ của loãng xương được chia làm hai nhóm: nhóm các yếu tố không thể kiểm soát được

5. Sinh bệnh học 

5.1. Cấu trúc mô xương và sự tái tạo xương 

Mỗi năm, 25% xương bè và 2–3% xương vỏ được tái tạo lại. Xương là một mô động, thay đổi liên tục trong suốt cuộc đời, phụ thuộc vào nhu cầu bên ngoài, trong đó có hoạt động thể lực. Quá trình tái tạo xương bao gồm các hủy cốt bào (tế bào hủy xương) phá hủy xương trên bề mặt xương, trong khi các tạo cốt bào (tế bào tạo xương) thay thế phần xương đã mất bằng mô xương mới.

Hình 31.2: Biểu đồ minh họa tác dụng tại chỗ và toàn thân lên các tế bào xương. Lực cơ học có thể ảnh hưởng tới nhiều giai đoạn của chu kỳ đổi mới xương (a-c) trong khi các yếu tố điều hòa nội tiết, tự tiết và cận tiết của hormon cận giáp (PTH), hormon tăng trưởng (GH) và yếu tố tăng trưởng giống Isulin 1 (IGF-1) có khả năng điều chỉnh hoặc hỗ trợ cho đáp ứng với lực cơ học. Mũi tên 1 và 2 cho thấy tác động trực tiếp và gián tiếp của PTH và GH lên tế bào xương. Theo Brahm
Hình 31.2: Biểu đồ minh họa tác dụng tại chỗ và toàn thân lên các tế bào xương. Lực cơ học có thể ảnh hưởng tới nhiều giai đoạn của chu kỳ đổi mới xương (a-c) trong khi các yếu tố điều hòa nội tiết, tự tiết và cận tiết của hormon cận giáp (PTH), hormon tăng trưởng (GH) và yếu tố tăng trưởng giống Isulin 1 (IGF-1) có khả năng điều chỉnh hoặc hỗ trợ cho đáp ứng với lực cơ học. Mũi tên 1 và 2 cho thấy tác động trực tiếp và gián tiếp của PTH và GH lên tế bào xương. Theo Brahm 

Trong quá trình tái tạo, một số tạo cốt bào bị giữ lại trong chất nền xương và được gọi là tế bào xương. Các tế bào xương liên kết với nhau và với tế bào ở bề mặt xương thông qua các chồi xương tạo nên hệ thống các kênh nhỏ. Các tế bào xương có vai trò rất quan trọng trong tiếp nhận và đáp ứng lại với lực cơ học tác động lên bộ xương, từ đó khởi phát quá trình tái tạo của các tế bào bề mặt ở vùng xương tương ứng. Ngoài ra, lực cơ học bên ngoài còn là cầu nối quan trọng giữa quá trình hủy xương và tạo xương mới, dẫn đến sự tạo xương mà không có hủy xương. Các hormon (tác dụng toàn thân) và các yếu tố tăng trưởng tại chỗ cũng tham gia vào quá trình tái tạo xương ở các mức độ khác nhau.

Hình 31.2: Biểu đồ minh họa tác dụng tại chỗ và toàn thân lên các tế bào xương. Lực cơ học có thể ảnh hưởng tới nhiều giai đoạn của chu kỳ đổi mới xương (a-c) trong khi các yếu tố điều hòa nội tiết, tự tiết và cận tiết của hormon cận giáp (PTH), hormon tăng trưởng (GH) và yếu tố tăng trưởng giống Isulin 1 (IGF-1) có khả năng điều chỉnh hoặc hỗ trợ cho đáp ứng với lực cơ học. Mũi tên 1 và 2 cho thấy tác động trực tiếp và gián tiếp của PTH và GH lên tế bào xương. Theo Brahm
Hình 31.2: Biểu đồ minh họa tác dụng tại chỗ và toàn thân lên các tế bào xương. Lực cơ học có thể ảnh hưởng tới nhiều giai đoạn của chu kỳ đổi mới xương (a-c) trong khi các yếu tố điều hòa nội tiết, tự tiết và cận tiết của hormon cận giáp (PTH), hormon tăng trưởng (GH) và yếu tố tăng trưởng giống Isulin 1 (IGF-1) có khả năng điều chỉnh hoặc hỗ trợ cho đáp ứng với lực cơ học. Mũi tên 1 và 2 cho thấy tác động trực tiếp và gián tiếp của PTH và GH lên tế bào xương. Theo Brahm 

Số lượng tế bào mất đi và được tái tạo phải cân bằng nhau. Nếu quá trình này không cân bằng thì sự tái tạo xương sẽ không hoàn chỉnh, gây mất khối xương. Sự mất xương này đáng kể khi tần suất tái tạo xương cao, xảy ra trong giai đoạn mãn kinh ở phụ nữ. 

5.2. Triệu chứng thường gặp và hậu quả của bệnh loãng xương 

Loãng xương thường diễn biến âm thầm, không có triệu chứng, người bệnh chỉ phát hiện bệnh tình cờ khi bị gãy xương. Gần 50% phụ nữ và 25% nam giới từ 50 tuổi trở lên có ít nhất một lần gãy xương do loãng xương trong cuộc đời. 

5.3. Chẩn đoán 

Chẩn đoán loãng xương dựa trên kết quả đo mật độ chất khoáng có trong xương (phương pháp đo hấp phụ tia X năng lượng kép – DXA). Theo Tổ chức Y tế Thế giới, loãng xương được định nghĩa khi mật độ xương thấp hơn 2,5 độ lệch chuẩn so với giá trị mật độ xương trung bình của những người trưởng thành trẻ tuổi trong cùng quần thể.

5.4. Nguyên tắc điều trị 

  1. Thay đổi lối sống: bao gồm hoạt động thể lực, thói quen ăn uống và hút thuốc. 
  2. Bổ sung canxi và vitamin D. 
  3. Dùng thuốc làm giảm quá trình hủy xương: bisphosphonates, SERM. 
  4. Thuốc làm tăng đồng hóa: sử dụng PTH cách quãng. 
  5. Phẫu thuật chỉnh hình: tạo hình đốt sống (trong trường hợp xẹp đốt sống. 

5.5. Ảnh hưởng của hoạt động thể lực lên quá trình hủy xương và tạo xương

Sự tối ưu hóa các yếu tố này sẽ giúp cho quá trình sản sinh, bảo vệ và duy trì bộ xương chắc khỏe . Không thể thay đổi được tuổi tác và các yếu tố di truyền. Tuy nhiên, có thể cải thiện chế độ dinh dưỡng (kết hợp canxi và vitamin D), duy trì nồng độ hormon sinh dục hợp lý (sử dụng liệu pháp thay thế hormon ở phụ nữ mãn kinh) và tăng cường hoạt động thể lực để đạt được những lợi ích đáng kể trên khối xương, ví dụ như làm tăng tạo xương. 

Ngoài ra, hoạt động thể lực còn tác động tới khối lượng cơ và lực cơ là các yếu tố có liên quan mật thiết với mật độ xương. Ví dụ như sự giảm khối lượng cơ bắp kéo theo giảm khối lượng xương, mặc dù sự thay đổi của mô xương diễn ra chậm hơn. Tương tự như vậy, khi khối cơ phát triển, khối lượng xương cũng tăng theo, mặc dù các xương chủ yếu chỉ chịu lực của khối cơ mà không phải chịu lực tải cơ học. Sự mất xương khi tuổi cao cũng liên quan tới những thay đổi của cơ lực và thay đổi theo tuổi. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng sự mất xương xảy ra sớm hơn so với sự giảm cơ lực và điều này mâu thuẫn với mối tương quan trên. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy cơ lực không chỉ liên quan tới mật độ xương của những xương bên dưới cơ đó mà còn có ảnh hưởng tới mật độ những phần xương khác của cơ thế. Bởi vậy, ảnh hưởng của các tác nhân kích thích cơ học (hoạt động thể lực) lên mô xương có thể còn phụ thuộc vào môi trường chuyển hóa và nồng độ các hormon (gọi chung là các tác động không cơ học). Các tác nhân không cơ học này có thể làm thay đổi đáng kể sự nhạy cảm của các tế bào xương đối với các tác động bên ngoài. 

5.6. Tác dụng trước mắt 

Có thể thấy được tác dụng của hoạt động thể lực lên mật độ xương sau 7–12 tháng luyện tập 

5.7. Tác dụng lâu dài 

Cũng giống như cơ lực, mật độ xương có thể giảm sút khi chuyển đổi từ lối sống có hoạt động thể lực sang lối sống tĩnh tại. Tuy nhiên, trên thực tế, các vận động viên thể thao vẫn duy trì mật độ xương cao hơn những người không luyện tập nhiều năm sau khi kết thúc sự nghiệp thi đấu.

Kết luận

Mục đích của hoạt động thể lực đối với những người bị bệnh loãng xương, không chỉ để cải thiện cấu trúc xương mà còn giúp đề phòng ngã và gãy xương do ngã. Ví dụ, các bài tập về thăng bằng, tập sức mạnh và phối hợp sẽ có tác dụng bổ sung tốt khi kết hợp với đi bộ. Hoạt động thể lực còn giúp giảm đau đối với các trường hợp đau mạn tính do xẹp đốt sống.

Share by
Share on facebook
Share on email
Bình luận bài viết

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Liên hệ tư vấn từ
Phan Bảo Long